Category Archives: Lưu Nguyễn Đạt

Chúng tôi còn hồn Nước

anh bán nước chúng tôi còn hồn nước
gửi gấm đây từng mảnh vụn tâm nguyên
lòng khao khát giữa điêu linh tai ngược
khiến nô dân sực nhớ lại nhân quyền

anh bán đảo biển sau và tổ quốc
từng cột ranh từng núi tản đồi nghiêng
từng ngọn suối hoang mang nay bắc thuộc
nhưng không sao bản nổi cả linh thiêng

anh bán đứng bao nhiêu thế hệ Việt
bằng hận thù và lừa lọc u mê
bằng doạ nạt từ đỉnh cao đảng phiệt
khiến toàn dân chậm tiến mãi lết lê

Tiếp tục đọc

Muốn Chống Ngoại Xâm Hãy Dẹp CSVN và Xây Dựng Lại Chính Nghĩa và Quyền lực Dân Tộc

https://i0.wp.com/phiatruoc.info/wp-content/uploads/2012/07/Bieu-tinh-HN-07222012-Reuters.jpgTiểu luận này đã được soạn và đăng trên Diễn Đàn Việt Thức và nhiều điện báo trên toàn cầu từ November 5, 2011. Vì tình hình tại Đông Nam Á vẫn khẩn trương dưới áp lực mỗi lúc mỗi táo bạo của CSTQ, trong khi CSVN thêm tham nhũng bất trị, tiếp tục hèn với giặc, ác với dân, nên chúng tôi thấy cần cập nhật bài biên khảo trên và cho đăng lại vào December 1, 2012. Trân trọng, Lưu Nguyễn Đạt

Chúng ta đã thấy rõ nạn ngoại xâm bởi Đế quốc Hán Cộng là một thực trạng lịch sử, gần đây thêm sôi động bởi những hành vi hống hách của bá quyền Bắc Kinh nhằm thôn tính Biển Đông và toàn bộ Khu Đông Nam Á, trong đó có chư hầu ý thức hệ là CSVN. Nạn ngoại xâm bởi Đế Quốc Hán Cộng chỉ là hậu quả thanh toán nợ nần quân bị chiến lược giữa những chế độ chuyên trị cướp đất, cướp dân, giữa những tên đầu nậu quốc tế buôn bán súng đạn, ranh giới, đảo rừng, và quyền thế đảng phiệt;

Tiếp tục đọc

Từ diễn biến Hoà Bình tới diễn tiến Dân Chủ

Lưu Nguyễn Đạt, TS.LS.
June 30, 2012

Khái niệm “Diễn Biến Hoà Bình”, chuyển ngữ mộc mạc từ “Peaceful Evolution”, nhắc tới một chủ thuyết có tính cách sách lược, phát khởi trong thời Chiến tranh Lạnh, bởi John Foster Dulles,[1] cựu Tổng trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, trong thập niên 1950. Sách lược này chủ trương một [a] “tiến trình chuyển đổi” từ thể chế độc tài toàn trị sang thể chế dân chủ [b] bằng con đường hoà bình [c] tại các quốc gia cộng sản.[2]

I. Phản Ứng và Lo Ngại của Khối Cộng Sản

Tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã chống lại “diễn biến hòa bình” từ năm 1959.[3] Một mặt Mao Trạch Đông chê Nga Xô chuyển mình theo chủ nghĩa xét lại qua chiêu bài “sống chung hoà bình”[4] của Nikita Khrushchev, mặt khác khởi xướng và dùng chiêu bài “Đại cách mạng văn hóa” hay “Văn cách” trong suốt 10 năm từ năm 1966-1976, để loại bỏ những phần tử “tư sản tự do” — trong đó có đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ — và đánh phủ đầu những đảng viên bất đồng ý kiến khác như Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài…

Tiếp tục đọc

Những Suy Nghĩ Về Ngày 30 Tháng Tư

1. Nguyễn Thị Thanh Bình: Tôi cố tình dành một khoảng trống cho tên gọi ngày 30-4… Xin bạn thử tìm một tên gọi khác cho ngày này, ngoài những chữ vẫn được gọi kêu thông thường như ngày Quốc Hận, Tháng Tư Đen, ngày Giải Phóng hay ngày Đại Thắng Mùa Xuân…? Và tại sao bạn lại muốn gọi như thế?

Lưu Nguyễn Đạt: Tôi mượn lời của nhà biên khảo Nguyễn Vĩnh-Tráng [1] khi ông đảo ngược “30 tháng Tư” để Tưởng niệm Ngày “30 thứ Tang”. Đó là thời điểm khởi đầu của những giai đoạn tang chế, đau buồn, tang thương di căn:

  • của toàn thể quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà, bị dồn vào thế thất thủ, hàng binh; bị tù đày, hành hạ, ám hại; bị tước đoạt danh dự, nhân cách và đời sống ngay từ ngày 30 tháng Tư 1975; Tiếp tục đọc

Aung San Suu Kyi: Cuộc Tranh Đấu Cho Dân Chủ Tự Do của Miến Điện

Luu Nguyen Dat TS.LS.

I. Aung San Suu Kyi là ai?

Aung San Suu Kyi tiêu biểu cho cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ của Miến Điện.

Bà sinh ngày 19 tháng 6 năm 1945 tại Rangoon, Miến Điện.[1] Thân sinh Bà, Tướng Aung San, là vị anh hùng bị sát hại bởi phe thù nghịch trong cuộc giải phóng giành độc lập cho Miến Điện và thân mẫu Bà, Khin Kyi, là một nhà ngoại giao lỗi lạc.

Sau trung học, năm 1960, Bà sang học tại New Delhi, khi thân mẫu Bà nhận làm Đại Sứ Miến Điện tại Ấn Độ.  Sau đó, Bà sang Luân Đôn, Anh Quốc học tại Oxford Universty.

Năm 1972, Bà kết hôn với Michael Aris, một viện sĩ tại Đại Học Oxford. Bà sinh được hai trai, Alexander [1973] và Kim [1977].

Tiếp tục đọc

Nói về thơ

Lưu Nguyễn Đạt

Nói về thơ gần như sống trong thơ một lần nữa. Đó cũng là cảm nhận dây chuyền, khi tình cờ gần gũi với dòng thơ. Thơ, vốn nội tâm, là niềm vui, nỗi buồn từ cuộc sống. Thơ vào đời và đời cũng nhập thơ. Như dòng nước với nụ cười; như hơi thở của sóng vơi.

Trong thơ, biển cả đã đổi màu, huyền biến vu vơ, trong tầm mắt và chiều sâu của hồn người thi sĩ. Tình yêu cũng vậy, qua lời lẽ ẩn vùi nhiệt độ, đã hoá chất thơ thành thứ ánh sáng tuyệt mỹ, sau và trước cả mọi bình minh, như tia nắng cuối cùng giữa lòng đêm và ngọn lửa rừng vừa chợt tắt, khi vạn vật còn hoang mê, chìm đắm, và chữ nghĩa còn lang bạt, lạnh nguồn.

Thơ đôi khi cũng yêu sách, đòi hỏi. Đòi hỏi mình và yêu sách cả cuộc đời. Đòi dòng sông nhập thành biển cả. Hỏi sao nguồn cảm hứng ngược dòng khơi. Yêu hạt sương tích tụ thành mây.

Tiếp tục đọc

Rượu lửa

uống đi rượu lửa chưa say
đất buồn còn lạnh cánh mây xoá rừng
cát vàng nước mất lưng chừng
cơn đau thấm buốt nỗi mừng buông trôi

uống đi cạn vực biển người
sóng nghiêng ngọn biếc giữa đời ly du
phân vân tách gió nghịch thù
đường đi chưa tới ngàn thu còn dài

uống đi rượu lửa nguyên khai
mực khô bút ngại ý phai nhạt hồn
chữ buông bóng ngả vuông tròn
nước buông dân hạ thân mòn đong đưa

Tiếp tục đọc